Phân tích tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến

Phân tích tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến

Phân công

Lê Huy Bắc từng nói: “Nghệ thuật chỉ đạt đến đỉnh cao khi nó được chắt lọc từ những nỗi đau chân thật của cuộc đời”. Nghệ thuật là tấm gương phản chiếu cuộc sống, nơi không chỉ có niềm vui và hạnh phúc. Những đau khổ và bất hạnh cũng cần và phải được gợi lên, nhưng một cách nhân văn và cao đẹp hoặc anh hùng. Viết về cái bi tráng nhưng vẫn hào hùng là tinh thần bi tráng được Quang Dũng sử dụng để viết “Tây Tiến”.

Cùng với cảm hứng sử thi hào hùng, chất “bi tráng” cũng là một trong những yếu tố cơ bản thường xuất hiện và là sợi dây chung của các tác phẩm về đề tài chiến tranh, từ cổ đại đến hiện đại. Nếu cảm hứng sử thi khẳng định, ngợi ca, tôn vinh vẻ đẹp và sức mạnh của con người thời đại với giọng văn hào sảng, hình ảnh rộng lớn, hào hùng; Tinh thần bi tráng có xu hướng nhìn nhiều hơn vào cái “bi”, để nói đến những thử thách, khó khăn, thậm chí cả những hy sinh, mất mát. Nhưng “bi thương” không luyến tiếc, “bi kịch” dùng anh hùng viết về lòng nhân ái, những khó khăn, gian khổ nhưng càng thêm trân trọng, con người ngày càng đẹp đẽ hơn. Như vậy, nghệ thuật vừa trung thành đến từng chi tiết nhưng luôn hoàn thành sứ mệnh phục vụ cuộc sống, phục vụ cách mạng và tính thẩm mỹ, ý thức chung của mình.

Quang Dũng viết rất hay và viết rất hay về nỗi nhớ – nỗi nhớ sinh ra từ những con đường tha hương, con đường cách mạng và kháng chiến, về “khu phố cổ”, về “xứ sở mây trắng”, về một ” đỉnh Ba Vì xa xôi ”và cái tên thân thương“ Tây Tiến ”. Bài thơ được viết vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, trong nỗi nhớ da diết của Tây Tiến – đơn vị chiến đấu năm xưa – cũng là nỗi nhớ về núi rừng rải rác ở miền Tây quê hương mà dường như tuyệt diệu của Quang Dũng trước đây. đính kèm. . Không khí lãng mạn rất riêng của những ngày đầu kháng chiến, tư thế hiên ngang, dũng cảm của người Hà Nội hào hoa, giàu tình cảm đã được thể hiện đậm nét trong từng câu hát, không nhồi nhét nhạc họa, đồng thời trang nghiêm, cổ kính. tươi trẻ. .

Xem thêm: Cảm nghĩ của em về đoạn trích Nỗi oan của chồng trong vở Quan Âm Thị Kính

Mạch thơ trên hết là sự dệt nên những ký ức, những hồi tưởng bất tận, những hiện ra bất chợt mà địa danh có khi chỉ là một dòng tên, có khi chỉ là một đỉnh cao nào đó của khái niệm. Kỉ niệm luôn hòa quyện với con người, đi liền nhau và dệt nên hai mạch: vừa gian khổ vừa thơ mộng:

“Sương mù Sài Khao bao phủ đoàn quân mỏi mòn.
Hoa Mường Lát về trong đêm “

Lối viết hiện thực khắc họa chân thực hình ảnh đoàn quân mệt nhoài, hơi khuất trong sương. Và đêm sương mù ấy đã trở thành một “đêm hơi” bồng bềnh qua cái nhìn lãng mạn của Quang Dũng. Những ngọn đuốc soi đường như những bông hoa lung linh, lấp lánh, huyền ảo. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên được cảm nhận một cách thú vị bằng hình ảnh lãng mạn và hào hoa.

Khó khăn luôn được coi là phép thử vàng. Chính vì vậy mới có câu “Sóng gió chung quanh / Gian nan là nợ anh hùng”. Khó khăn, thử thách là cái nền để làm nổi bật vẻ đẹp và tính cách của con người. Họ không nản lòng trước khó khăn, gian khổ, họ chịu đựng những vết dầu trên cơ thể lâu ngày:

“Người bạn cẩu thả của tôi không đi nữa
Ngã súng quên đời ”

Hai câu thơ như một bức tranh vẽ đầy ấn tượng về người lính. Đây có lẽ là những khoảnh khắc hiếm hoi khi một người lính ngủ quên; nhưng cũng có thể là một sự thật đau xót là người lính đã ngã xuống và không thể cùng đồng đội đi lại. Sự hy sinh là có vì Quang Dũng không bao giờ trốn tránh thực tế. Nhưng thực tế trong mắt anh ấy không bao giờ là đơn giản và nhàm chán. Hàng loạt từ chủ động: “không bước nữa”, “quên đời”. Biến mất mát thành chủ động chấp nhận, chấp nhận một cách tự tin và sảng khoái, chịu đựng sự dũng cảm, tự hào và thất bại của những người lính trẻ đầy nhiệt huyết.

Xem thêm: Giới thiệu và thuyết minh về món bún riêu cua

Những con người đang ở tuổi thanh xuân, cái tuổi mà Thanh Thảo nói: “Mười tám đôi mươi sắc như cỏ / Dày như cỏ / Yếu đuối như cỏ” (Bài thơ dài “Những người đi ngang”) chợt vụt sáng. , Chúng là duy nhất:

“Nằm rải rác trên biên giới của những nấm mồ xa xôi
Ra chiến trường không tiếc đời xanh.
Những chiếc váy đưa anh ta trở lại mặt đất
Sông Mã gầm lên khúc độc tấu.

Câu thơ là một trong những tượng đài bi tráng nhất của người lính Việt Nam. Ở đất nước xa xôi, những người này chỉ là những tấm vải mỏng manh. Sự chết chóc, đau thương, mất mát trong chiến tranh là không thể phủ nhận. Nhưng “bi” chứ không phải “may”. Đoạn thơ sử dụng hệ thống từ Hán Việt: “biên cương”, “xa”, “chiến trường”, “tà áo”, “đơn độc” làm không khí thanh thoát, lời ca êm đềm, giọng thơ. anh hùng, bi tráng. Một cách nói chủ động khác: “không tiếc đời xanh” khẳng định bản lĩnh trơ trẽn của những người đàn ông coi cái chết “nhẹ như cờ đỏ”. Hình ảnh “y phục” gợi lại bóng dáng của Kinh Kha bên bờ sông Dịch: “Nam nhân nhất tề phi tần không trở lại” và cách nói dưới càng làm cho người lính thêm đẹp trai. Đối với họ, cái chết chỉ là sự trở về vì họ đã sống và chiến đấu quyết liệt với tinh thần điềm tĩnh và nhẹ nhàng.

Trước đây, khi nhắc đến những câu thơ này của Quang Dũng, người ta thường bắt gặp ở đó những âm hưởng “mộng rơi”, “buồn mồ” hay “hòa bình tư sản”. Giọng điệu của nhà thơ, của những người lính Tây Tiến, quả là vô cùng đáng trân trọng. Đó là biểu hiện lòng quyết tâm của những con người yêu giống nòi, sẵn sàng hy sinh xương máu vì những nghĩa cử cao cả. Họ không phải là nạn nhân, con cờ đen vô nghĩa trên bàn cờ, mà là những “chủ thể nhận thức về lịch sử”, biết sống đẹp từng khoảnh khắc, biết mơ, biết hy vọng và khi cần thì sẵn sàng cho đi. Những câu thơ của Quang Dũng thực sự sánh ngang với những người lính đã hy sinh vì nghĩa lớn. Sự ra đi của họ được cất lên như một bản nhạc “đơn” của dòng sông Mã đầy hùng tráng và trang trọng. Tầm vóc của con người so với vũ trụ. Nó làm tôi nhớ đến những câu thơ của Thanh Thảo, như lời của những chàng trai trẻ trung nhưng biết sống xứng đáng với tuổi trẻ và đất nước:

Xem thêm: Bài văn về hiện tượng nghiện cờ bạc, game online trong giới trẻ học sinh hiện nay

“Chúng tôi ra đi mà không hối hận về cuộc sống của mình
(Làm sao tuổi đôi mươi không hối tiếc)
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi, còn Tổ quốc?

(Bài hát trong “Những Người Ra Biển”)

Tinh thần bi tráng thể hiện dưới một hình thức “bi tráng” không kém. Hình dáng “Lão phong hành” (một loại củ hành) được dùng để tình cảm và tình cảm không bị ràng buộc vào nhau, mà có thể kéo dài theo đầu bút, thành chữ. Những hình ảnh thơ tuy bình dị, quen thuộc nhưng khi vận dụng cùng trong cách sắp xếp của Quang Dũng lại mang đến hiệu quả bất ngờ. Nét bút hiện thực cùng với nét lãng mạn đã tạo nên vẻ đẹp hào hùng và bi tráng cho câu thơ. Đây là phong vị rất riêng của thơ Quang Dũng: giản dị mà bay bổng, không trau chuốt mà mới lạ đến ngỡ ngàng! Hát mãi cũng thành “chán”, những câu ca tụng con người, ca tụng hiện thực quá mộng mơ. Văn chương cần và phải có sự sống, mất mát, đau thương trước nhưng biết vươn lên và tỏa sáng. Đây là những bài thơ chân chính của mọi thời đại và của mọi dân tộc. Những câu thơ “Tây Tiến”, “Núi đôi”,… một thời không được đánh giá cao bằng cái được coi là “tiểu tư sản sầu thảm”. Nhưng trải qua sự khắc nghiệt của thời gian, những tác phẩm chân thực này đã chứng tỏ được giá trị của mình.

Nghệ thuật là tấm gương phản chiếu lối sống. Đường đời có nơi khô ráo, có nơi lầy lội. Chiếc gương nghệ thuật sẽ phản chiếu những “chỗ lầy lội” để bạn vẫn có thể nhìn thấy bầu trời trong xanh.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *